Dành cho Logos quảng cáo
Trang giải trí của người Việt

Nhân vật lịch sử

NHỮNG HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI – Bài 8 Phan Bội Châu Sau Vụ Án Tử Hình Vắng Mặt.
TRƯỜNG XUÂN PHU TỬ - HỒ QUANG
19.03.2020 19:39:09

Cụ Nguyễn Thượng Hiền

Tiếp theo Bài 7

Rời Nhật đến Quảng Châu lánh nạn, nhưng tại đây có những cuộc nổi loạn, Long Tế Quang đưa quân đến dẹp và nhận chức Tổng Đốc Quảng Đông. Thực dân Pháp tại Việt Nam biết được tin nầy, liền nhờ người đem tiền đút lót để Long Tế Quang bắt nhốt cụ Phan Bội Châu vào ngục (24/12/1913) để chờ ngày giải giao lại cho Pháp. Đây là thời gian mà cụ Phan đã viết tác phẩm “Ngục Trung Thư”.

Nghe tin cụ Phan Bội Châu bị bắt giam, Nguyễn Thượng Hiền là hội viện của “Việt Nam Quang Phục Hội” đang ở Bắc Kinh, vận động với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản đối việc bắt giam cụ Phan và buộc Long Tế Quang phải thả. Trước tình thế nầy, viên Tổng Đốc Quảng Châu, sau hơn 3 năm đã giam cầm, hắn đành bội ước với thực dân Pháp và thả cụ Phan ra. Theo Đinh Xuân Lâm trong “Đại Cương Lịch Sử Việt Nam” (sách đã dẫn) có ghi: “...mãi đến tháng 2 năm Đinh Tỵ (1917), cụ Phan mới được ra khỏi tù...”.

Ra khỏi tù, cụ Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động.

Vài dòng về cụ Nguyễn Thượng Hiền:

Trang Web “Hải Ngoại Phiếm Đàm” mục “Văn Học Nghệ Thuật” viết:
Nguyễn Thượng Hiền sinh năm 1868 tại làng Liên Bạc, tỉnh Hà Ðông, con quan Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên. Ông rất thông minh, thuở thiếu thời đã nổi tiếng thần đồng. Năm 1884, mới 16 tuổi, ông đi thi Hương lần đầu tiên và đỗ Cử Nhân ở trường thi Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ, ông lui về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Ðến năm 1892, ông lại thi Ðình và đỗ Hoàng Giáp, lúc đó 24 tuổi, ông được bổ làm Toản Tu ở Quốc Sử Quán, rồi thăng Ðốc Học ở Ninh Bình, Nam Ðịnh. Xuất thân từ một gia đình phong kiến, quý tộc nhưng đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, thông cảm với nỗi điêu đứng của người dân, Nguyễn Thượng Hiền đã sớm có ý thức cách mạng. Trong thời gian ở Huế, ông tìm đọc "Ðại Thế Thiên Hạ Luận " của nhà sư Nguyễn Lộ Trạch, đọc nhiều tân thư của Trung Quốc, kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Chính nhờ Nguyễn Thượng Hiền mà một số sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX đã biết đến những tư tưởng duy tân tiến bộ của Nguyễn Lộ Trạch và nhất là những tư tưởng mới mẻ trong tân thư Trung Quốc. Từ năm 1898, qua giao tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền quyết định xuất dương du học theo phong trào Đông Du, nhưng vì phụ thân bệnh nặng, nên ông đành ở lại và giúp làm nhiệm vụ vận động trong nước. Năm 1907, sau khi thọ tang cha, ông sang Trung Quốc cùng hoạt động với cụ Phan Bội Châu trong Duy Tân Hội rồi Việt Nam Quang Phục Hội. Năm 1925, Nguyễn Thượng Hiền mất tại Hàng Châu, Trung Quốc (ngày 28.12.1925). Theo di chúc, thi hài ông được hỏa táng, tro được rải xuống sông Tiền Ðường để linh hồn được trôi theo dòng nước ra biển Ðông về lại với quê hương.
Vì độc lập của tổ quốc, vì tự do dân chủ cho dân, Nguyễn Thượng Hiền đã từ bỏ quan điểm Nho Giáo lỗi thời, cổ vũ việc Duy Tân, sau đó lại đoạn tuyệt với chế độ quân chủ, quyết theo khuynh hướng dân chủ. Ông không những là một nhà cách mạng chân chính mà còn là một nhà văn yêu nước, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đáng kể, đặc biệt, ông đã dùng thơ văn để phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước.
Trở lại với các hoạt động của cụ Phan Bội Châu:
Năm Nhâm Tuất (1922), phỏng theo cách tổ chức “Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn (Trung Hoa Dân Quốc), cụ Phan cải tên Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Năm Giáp Dần (1924), tổ chức “Tâm Tâm Xã” tại Quảng Đông hoạt động rất mạnh, cụ Phan liền cho lập ngay tại Quảng Châu một bộ phận của tổ chức này, dùng làm nơi liên lạc với các đồng chí trong “Việt Nam Quốc Dân Đảng”. Qua sự liên lạc này, cụ Phan đã viết sách gởi về nước nhằm tuyên truyền, cổ động tình thần dân chủ, kêu gọi lòng yêu nước của mọi người để cứu nước. Một số thanh niên cốt cán trong Hội như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn... cùng một số thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết của Tâm Tâm Xã hoạt động chung trong “Tân Việt Thanh Niên Đoàn”.

Tháng 3 năm nầy (Giáp Dần – 1924), biết được tin toàn quyền Đông Dương Merlin (Martial Henri Merlin) sang công cán tại Nhật, cụ Phan cho triệu tập các đồng chí của mình, để cử người chận đưởng hạ sát...

Vụ ám sát Toàn Quyền Merlin:

Trước khi vụ ám sát Toàn Quyền Merlin xảy ra, nhìn chung thì các hoạt động chống Pháp tại hải ngoại của “Việt Nam Quang Phục Hội” chưa có vụ nào xảy ra gọi là đáng kể. Đến khi “tiếng bom Sa Diện” (Sa Diện chứ không phải Sa Điện, Sa Diện là tô giới của Pháp ở Quảng Châu) phát nổ, đã làm bùng lên khí thế chống Pháp của người Việt tại khắp trong và ngoải nước.

Biệt được tin Toàn Quyền Merlin sau khi công cán tại Nhật Bản sẽ về đến Quảng Châu, ngụ ở khách sạn Victoria (thuộc tô giới Sa Diện của Pháp). Biết được sự kiện nầy, Việt Nam Quang Phục Hội cử Phạm Hồng Thái giả dạng ký giả, gài quả bom nhỏ trong máy ảnh, chờ khi Merlin ngồi vào bàn tiệc thì ném ngay chỗ hắn ngồi. Bom nổ, Merlin thoát chết, nhưng 5 người Pháp khác thiệt mạng (Pelletier, Rougeau, Gérin và vợ chồng Desmarets). Nhiệm vụ không hoàn thành, lại bị lính Pháp ở tô giới Sa Diện túa ra truy Phạm Hồng Thái thoát thân ra được khỏi khách sạn, nhưng không thể lọt được vòng vây, phải nhảy xuống Châu Giang tự tử (lúc này Phạm Hồng Thái mới 28 tuổi).

Phạm Hồng Thái tên thật là Phạm Thành Tích (范成績), người Nghệ An, là con của quan Huấn Đạo Phạm Thành Mỹ. Phạm Hồng Thái cùng với một nhóm thanh niên có tâm huyết theo Vương Thúc Oánh (hội viên Việt Nam Quang Phục Hội) vượt biên qua Xiêm (Thái Lan) rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc) vào khoảng cuối năm Mậu Ngọ (1918). Tháng 4 năm Giáp Tý (1924), ông gia nhập Tâm Tâm Xã do Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn thành lập. Ngày 19 tháng 6 năm này, sau khi viết bảng cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với mọi người trên toàn thế giới, Phạm Hồng Thái giả dạng ký giả vào Khách Sạn Victoria (ở tô giới Sa Diện, Quảng Châu) ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin. Sở dĩ Hội cho giết tên này là vì Merlin đã điều đình cùng nhà cầm quyền Nhật trục xuất hết các nhà cách mạng Việt Nam đang ở Nhật. Biết thế nào khi về lại Đông Dương, Merlin phải dừng lại Quảng Châu, thăm khu tô giới Sa Diện, và có cho tổ chức tiệc mừng vào đêm 18 tháng 6 tại Khách Sạn Victoria, Tâm Tâm Xã cử ngay Phạm Hồng Thái (có sự hỗ trợ của Lê Hồng Sơn), đảm nhận nhiệm vụ ám sát này.

Về sau sách vở ghi lại sự kiện này là “Tiếng bom Sa Điện" (nhưng tên thực là Sa Diện) đã làm vang động dư luận thời bấy giờ. Thi hài Phạm Hồng Thái được chính phủ Tôn Tung Sơn trân trọng cho chôn chung với 72 liệt sĩ Trung Quốc trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi (1911) tại Đài Liệt Sĩ Hoàng Hoa Cương.

Vài nét về cụ Nguyễn Hải Thần (阮海臣)

Theo wikipedia, Nguyễn Hải Thần tên thật là Vũ Hải Thu (武海秋), còn có tên là Nguyễn Cẩm Giang hay Nguyễn Bá Tú (?), quê Hà Nội (Đại Từ, Đại Kim). Thuở nhỏ theo học chữ Hán, lớn lên Nguyễn Hải Thần hưởng ứng phong trào Đông Du theo cụ Phan Bội Châu sang Nhật học tại trường Chấn Võ (Tokyo), sau đó những học viêc cú phong trào nầy bị Nhật trục xuất phải lánh về Trung Quốc để hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội để chống Pháp. Tại Trung Quốc, Nguyễn Hải Thần được vào học tại trường Võ Bị Hoàng Phố rồi trở thành Giảng Viên của môn Chính Trị của trường này. Ngoài ra Nguyễn Hải Thần còn giỏi về môn bói toán.   

Khoảng năm 19121913 Nguyễn Hải Thần về nước mưu sát Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraut, nhưng không thành, ông quay trở lại Trung Quốc.

Ngày 13 tháng 3 năm Ất Mão (1915), Nguyễn Hải Thần cùng Hoàng Trọng Mậu và Phan Sào Nam (tức Phan Bội Châu) mộ quân từ Quảng Tây (Trung Quốc) đánh đồn Tà Lùng (Cao Bằng) nhưng bị thất bại.

Năm Đinh Mão (1927), Nguyễn Hải Thần lãnh đạo đảng "Việt Nam Toàn Quốc Cách Mạng" ở Quảng Đông (Trung Quốc).

Năm Bính Tý (1936), Nguyễn Hải Thần được Hồ Học Lãm, một nhà yêu nước đang là võ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch, mời lên Nam Kinh tham gia thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh (không phải là Việt Minh gọi tắt của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh Hội).

Năm Canh Thìn (1940), Nguyễn Hải Thần ông cộng tác với lực lượng Việt Nam Kiến Quốc Quân của Trần Trung Lập tấn công Pháp ở Đồng Đăng (Lạng Sơn) gần biên giới Trung Quốc.

Năm Tân Tỵ (1941), Nguyễn Hải Thần cùng Lý Đông A lập Đảng Duy Dân, hoạt động tại Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc).

Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1942) tại Liễu Châu (Trung Hoa), Nguyễn Hải Thần cùng với Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh, Nông Kinh Du,... sáng lập Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Cách.

Tháng 9 năm Ất Dậu (1945), Việt Cách theo 200.000 quân Trung Hoa Dân Quốc do tướng Lư Hán chỉ huy tiến sang Việt Nam, với danh nghĩa giải giới quân đội Nhật.

Theo hồi ký của Võ Nguyên Giáp:

Nguyễn Hải Thần cho người đi rải truyền đơn ở Hà Nội, dùng loa phóng thanh tuyên truyền Việt Minh là độc tài và ngồi trên xe ô tô con, trên nóc xe có hai lính gác nằm với khẩu trung liên, hai lính khác ngồi phía trước cầm tiểu liên đi thị uy trên đường phố Hà Nội...”.

Theo “Vietnam: State, War, and Revolution (1945-1946), page 411”, California: University of California Press, 2013 cùa David G. Marr, có viết như sau:

Ngày 30/9/1945, Nguyễn Hải Thần dẫn một phái đoàn Việt Cách đến gặp Tướng Tiêu Văn thảo luận về việc loại bỏ “chính phủ cách mạng lâm thời” Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đàn áp Đảng Cộng Sản Đông Dương, nhưng Tướng Tiêu Văn không ủng hộ. Cuối thán 10/1945, có 7 đảng viên đảng Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản “Đoàn Kết tinh thần” với Việt Minh, theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy nhiên sau đó họ đã chối bỏ việc ký bản “Đoàn Kết Tinh Thần”. Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Việt Nam, khiến hàng loạt các vụ đụng độ xảy ra giữa Việt Cách và Việt Minh. Trước tình thế nầy, phía daqn6 chúng Việt Nam rất hoang mang, phía quan Trung Hoa Dân Quốc đang đóng ở miền Bắc lấy làm khó chịu, Tướng Tiêu Văn buộc cả hai phải thành lập chính phủ liên hiệp. Tại phiên họp ngày 27/9/1945, đã đồng ý cử Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ Tịch chính phủ nầy. Ngày 23/10/1945. Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần ký thỏa ước chấp nhận hai bên đoàn kết và hợp tác, nhưng sau đó ít ngày thì thỏa thuận bị vải bỏ.

Ngày 23/12/`945, Tướng Tiêu Văn cho tổ chức một cuộc hòa giải các bên để thành lập một chính phủ liên hiệp. Tại bưởi họp nầy, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm Việt Cách, Việt Quốc, Việt Minh và đảng phái nhỏ khác... Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ Tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ Tịch. Việt Cach, Việt Quốc, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ ¼ số ghế Bộ Trưởng trong chính phủ, ¼ còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ nhận được sự ủng hộ của Tuung Hoa Dân Quốc, chống lại sự cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam. Điều làm cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa lo sợ nhất là Hồ Chí Minh vì nhân vật nầy là nhân viên của Quốc Tế Cộng Sản, và Việt Minh có khuynh hướng theo chủ nghĩa Cộng Sản.

Theo “Why Vietnam, Archimedes L.A Patti" (NXB Đà Nẵng, 2008, trang 603-604) có ghi, trước đó Pháp cũng đã họp với Nguyễn Hải Thần và cho biết rằng Pháp sẽ thực hiện bản tuyên bố ngày 24/3/1945, công nhận một chính phủ của người Việt Nam nằm trong Liên Bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp với điều kiện là chính phủ đó khộng do người Cộng Sản lãnh đạo, nhưng cuối cùng các bên của “chính phủ liên hiệp” cũng đạt được thỏa thuận “mang tính pháp lý” (viết bằng chữ Hán), theo đó các ghế Bộ Trưởng trong chính phủ sẽ phân chia như sau:

Việt Minh:            2 Bộ Trưởng

Đảng Dân Chủ Việt Nam (có sự tham gia của Việt Minh): 2 Bộ Trưởng

Việt Quốc:            2 Bộ Trưởng

Việt Cách:             2 Bô Trưởng

Phi đảng phái:       2 Bộ Trưởng

Thỏa thuận nầy không dùng tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vì Việt Quốc không đồng ý. Cuộc bầu cử Quốc Hội được hoãn 2 tuần. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm Chủ Tịch Lâm Thời, Quốc Hội sẽ quyết định Quốc Kỳ, Quốc Huy. Hai đảng Việt Quốc và Việt Cách không được tham gia vào cơ quan chỉ huy và tham mưu của quân đội. Việt Quốc sẽ được 50 ghế, Việt Cách sẽ được 20 ghế trong Quốc Hội mà không phải tranh cử. Theo “Vietnam: State, War, and Revolution (1945-1946), page 418”, California: University of California Press, 2013, cùa David G. Marr, cho rằng việc này khẳng định là 2 đảng Việt Quốc và Việt Cách không có khả năng giành chiến thắng trong việc bầu cử tại các địa phương.

Đầu năm 1946, Việt Cách tham gia Quốc Hội Liên Hiệp và Chính Phủ Liên Hiệp của Việt Minh. Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ Tịch Chính Phủ Liên Hiệp, đồng thời là Đại Biểu Quốc Hội đặc cách không qua bầu cử cả nhóm Việt Cách.

Tháng 7/1946, khi tranh chấp giữ Việt Minh và các phe phái đối lập xảy ra. Việt Minh tấn công lực lượng của Việt Cách. Nguyễn Hải Thần phải sang Hồng Kông lánh nạn. Năm 1947, ông cưới vợ thứ người Hoa tên Hao Hai Le, sống lưu vong mãi đến năm 1959 thì qua đời, thọ 90 tuổi. Có tài liệu ghi Nguyễn Hải Thần mất tại Quảng Châu năm Kỷ Mùi (1959), cũng có tài liệu ghi Nguyễn Hải Thần mất năm Tân Mão (1951) hay năm Giáp Ngọ (1954).

Vài nét về nhân vật Lý Thụy:

Nguyễn Tất Thành sau khi rời bỏ nhóm “Ngũ Long” không cùng “tề khởi” với 4 người kia (Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền) để về Việt Nam hoạt động chống Pháp như đã giao kết. Ông ta sang Liên Xô, rồi đến Trung Quốc với cái tên Nguyễn Ái Quốc (Bút hiệu chung của nhóm Ngũ Long) để hoạt động (cho Quốc Tế Cộng Sản). Dưới tên mới Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc theo “phái đoàn cố vấn Liên Xô” do Mikhail Markovich Borodin dẫn đầu. Đến Trung Quốc ngày 11 thàng 11 năm Giáp Tý (1924), với nhiệm vụ làm thông dịch cho phái đoàn nầy (Borodin được Liên Xô cử sang làm cố vấn cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch), Lý Thụy bắt tay vào hoạt động ngay cho Quốc Tế Cộng Sản. Ngay khi còn ở Liên Xô, Lý Thụy được Cộng Sản Quốc Tế giao làm Ủy Viên Đông Phương Bộ, phụ trách Cục Phương Nam, nên khi đến được Quảng Châu, với tư cách là một hội viên của Tâm Tâm Xã (Nguyễn Thế Truyền đã giới thiệu Nguyễn Tất Thành vào Tâm Tâm Xã ở Pháp), Nguyễn Ái Quốc tìm đến Hội Tâm Tâm Xã tại Quảng Đông mà cụ Phan là một thành viên của hội nầy để cùng hoạt động. Một thời gian ngắn sau đó, Lý Thụy thuyết phục được những thành viên ưu tú của Tâm Tâm Xã tham gia vào tổ chức của mình (về sau những người này đã trở thành hạt nhân của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội) và đề nghị cụ Phan Bội Châu thay đổi đường lối chống Pháp hiện có để theo phương cách hoạt động của “xã hội chủ nghĩa”. Thấy một số hội viên nòng cốt của của mình theo về với Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, cụ Phan còn do dự, chưa có ý kiến dứt khoát… không may sau đó cụ bị mật thám Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, đưa đến Hồng Kông rồi giải về Hải Phòng, chuyển lên Hà Nội để giam vào nhà lao Hỏa Lò. Để tránh mọi tin đồn về vụ bắt cóc nầy gây bất lợi cho thực dân Pháp, họ đã ngụy hóa việc bắt cóc cụ Phan Bội Châu dưới một một sự kiện khác đó là “vụ tù quốc phạm Trần Văn Đức”.

Sự kiện nầy xảy ra như sau:

Năm Ất Sửu (1925), cụ Phan Bội Châu nghe lời bàn của Lý Thụy (tức Nguyễn Tất Thành) và Lâm Đức Thụ, gia nhập vào tổ chức “Toàn Thế Giới Bị Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc” (Dân Tộc Nhược Tiểu trên toàn Thế Giới bị áp bức). Nhưng sau đó, Lý Thụy và các đồng chí của ông ta trong Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (tức Việt Minh) lập mưu dụ cụ Phan Bội Châu đến Thượng Hải rồi báo tin cho mật thám Pháp bắt cóc.

Trên trang web “danlambao”. Đặng Chí Hùng (chỉnh sửa và hoàn thiện:29/06/2012) viết:

Ông Hồ Chí Minh có một bí danh là Lý Thụy khi ông ta hoạt động tại Trung Quốc và Thái Lan. Đó cũng là lúc diễn ra cuộc gặp gỡ giữa ông ta và cụ Phan Bội Châu ở Trung Quốc. Bằng chứng khẳng định Lý Thụy là Hồ Chí Minh có rất nhiều, tôi (tức Đặng Chí Hùng) xin trích dẫn tại đây...

- Đầu tiên, trên trang Việt Báo

(http://vietbao.vn/The-gioi-tre/Cuoc-thi-tim-hieu-75-nam-lich-su-ve-vang-cua-Doan-TNCS-Ho-Chi-Minh/45180413/275/)

là tờ báo lề đảng, trong bài tìm hiểu 75 năm Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có đoạn:

“...Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đài tạo nhằm xây dựng Thanh Niên Cộng Sản Đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng (tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong Việt Nam Quang Phục Hội) truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băng khoăn vì còn nhỏ tuổi (mới 12). Song cưới cùng, xét về cả tư chất và nhân thân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa thiếu niên nầy vào đanh sách chính với tên Lê Hữu Trọng.

Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy, Đúng hơn đây có thể coi là cuộc “đoàn tụ” của những người thân trong gia đình. Để bảo đảm tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý như Lê Hữu Trong mang bí danh là Lý Tự Trọng, Đinh Chương Long mang bí danh là Lý Văn Minh, Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất, Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ), Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông, Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ), Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ), Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh...”.

- Thứ hai, trên trang diendannuocnga.net

(Website được Đại Sứ Quán Việt Nam Tại Nga bảo trợ) có đoạn:

“Ngày 11/1/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu để hợp pháp hóa hoạt động, ông ta lấy bí danh là Lý Thụy.

Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu báo Thanh Niên (cớ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh Hội) được thành lập và ra số báo đầu tiên, ông ta đã lấy bút danh là “Z.A.C” (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php? t=217).

Điều nầy cũng khẳng định Lý Thụy chính là Hồ Chí Minh.

- Thứ ba, trên Website của Đảng Cộng Sản Việt Nam với tên gọi: Tennguoidepnhat.net, có viết:

“... Tiếp đó, trong những năm 1923-1924, Nguyễn Ái Quốc còn sử dụng thêm một số bút danh và tên gọi khác dưới các bài viết và trong hoạt động cách mạnh như:

Chú Nguyễn, N, S Chon Vang, Trần Vương, Ai Qua Que, Nguyễn Hải Khách, Lý Thụy (http://tennguoidepnhat.net/2012/02/18/một-số-but-danh-biệt-hiệu-của-bac-hồ/).

Như vậy, ngay trên các tài liệu của Đảng Cộng Sản, đều nói Lý Thụy chính là Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc và Thái Lan.

Cụ Phan Bội Châu bị bắt cóc như thế nào:

- Khi cụ Phan hoạt động ở Trung Quốc, với tư cách là một hội viên Tâm Tâm Xã, Lý Thụy tìm đến gặp cụ. Với tấm lòng quý mến, yêu thương thật sự, cụ Phan rất tán thưởng với các hoạt động nhằm chấn hưng dân tộc, nên sau nhiều lần tiếp xúc, cụ Phan đã viết thư cho Lý Thụy, có nội dung như sau:
“Người cháu rất kính yêu của Bác
Hôm trước anh Lâm (Đức Thụ) và anh Hồ (Hồ Tùng Mậu) gửi lại thư của cháu, trong thư có nói tường tận về chuyện ông Hy Mã (Phan Châu Trinh).
Tuy thư đưa trực tiếp trên chuyện thật nhưng ngụ ý thật sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên những ý tưởng lớn, nhân đó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, quả thực không phải như hai mươi năm về trước.
Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu gò án ngâm thơ, anh em cháu đều chửa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ gì này với cháu thì bác thật rất xấu hổ. Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai. Ngày xế đường cùng, chỉ sợ không được thấy ngày đó, làm sao bác không cảm thấy buồn cho chính mình được? Một đời tận khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ ủy thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được.
Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến để đàm luận với cháu, không biết cháu còn ở lại Quảng Đông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có định đi chỗ khác không? Trong lòng bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu, nhưng không gặp mặt thì làm sao có thể bàn cho hết ý được? Làm sao được? Nếu không coi già yếu là đồ bỏ thì cháu viết thư nhiều cho bác, bác thành thật yêu cầu cháu đấy.
Cần nhắc lại là Phan Bội Châu lúc rời nước đã gần bốn mươi (ba mươi chín tuổi đến Nhật) lại không thể tránh khỏi những trách nhiệm này nọ đặng chuyên chú học hành, cho nên tri thức lúc bấy giờ cũng vẫn như xưa. Cháu học vấn rộng rãi, và từng đi nhiều nơi, hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu vượt sức đo lường của bác; không biết cháu có thể chia sẻ cùng bác một hai việc? Bác rất hết sức mong đợi, mong cháu không ngại. Vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm những khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã thì cũng giống Phan Bội Châu mà thôi!
Thư bất tận ngôn, mong cháu hiểu giùm cả những ý không viết thành lời. Chúc cháu bình an.
Ngày 21 tháng 1 Ất Sửu (14 tháng 2 năm 1925 dương lịch) viết dưới đèn dầu.
Chỗ bác ở đâu nơi đất khách thì Quốc Đống (Hồ Tùng Mậu) đã biết nên không ghi ở đây.
Thư này nhờ Quốc Đống chuyển giúp (*)
(*)- Theo “Bác Hồ với cụ Phan Bội Châu – Bức Thư Phan Bội Châu gởi Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc” trên web (http://phuly.edu.vn/bacho/chuyen110.htm) của Sở Giáo Dục tỉnh Hà Nam).
Theo nội dụng thư, chúng ta thấy cụ Phan viết cho Lý Thụy với sự đồng cảm và mến phục một hậu bối năng động và hiểu biết nhiều như Lý Thụy. Cụ phan rất muốn hợp tác với Lý Thụy để chia xẻ những kinh nghiệm đấu tranh chống Pháp, chứ không thể làm “khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc”. Cụ Phan còn kể lại chuyện xưa để chứng tỏ là hai người có tình bác cháu với nhau, lúc Lý Thụy còn bé (Nguyễn Sinh Cung) khi cụ đến thăm thân phụ Nguyễn Sinh Sắc của Lý Thụy bây giờ. Nhưng chỉ khác một điều là trước kia (1905) cụ đến nhà Lý Thụy, còn bây giờ (1924), Lý Thụy lại tìm đến cụ.  
Lý Thụy đến Quảng Châu (Trung Quốc) sau khi vụ mưu sát toàn quyền Merlin ở Sa Diện xảy ra. Vì tiếng vang của vụ “ném bom” nầy, Lý Thụy đã tìm gặp các đồng chí của Phạm Hồng Thái như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và Lê Hồng Phong (3 người nầy và Lý Thụy đều là người Nghệ An). Gặp được những người này, Lý Thụy ca ngợi Phạm Hồng Thái là người làm nên chiến công bất tử: Sự hy sinh của Phạm Hồng Thái sẽ trở thành cánh én báo hiệu mùa Xuân sắp về. Tên tuổi của anh sẽ sống mãi (Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép: Đồng chí Hồ Chí Minh - Tập I. NXB Thanh Niên - Hà Nội - 1985 - Tr.195). Nhờ vào các hoạt động trong Tâm Tâm Xã (tại Quảng Châu), Lý Thụy mới biết được vào tháng 6/1924 do ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn, cụ Phan Bội Châu cải tổ “Việt Nam Quang Phục Hội” thành “Quốc Dân Đảng Việt Nam”. Có lẽ đây là điều mà Lý Thụy hoàn toàn không đồng ý, và viết thư cho cụ Phan Bội Châu.
Theo “Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tiểu Sử Và Sự Nghiệp – NXB Sự Thật - Hà Nội - 1987 - Tr.63”, của Viện Lịch Sử Đảng, có viết về việc “chủ động” này:  
“...Đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa thì đã bị đế quốc Pháp bắt giải về nước vào năm 1925 Rất may là Nguyễn Ái Quốc đã có một số lần gặp được Phan Bội Châu: khi thì ở Quảng Châu, khi thì ở Thượng Hải (Trung Quốc)… mặc dù các cuộc nói chuyện này không thông suốt ngay tức khắc, song dần dần đã đem lại những kết quả mong muốn. Họ đã đi đến quyết định, là mùa hè năm 1925, sẽ tổ chức hội nghị hạt nhân lãnh đạo của đảng. Hội nghị này đã định số phận sau cùng của Quốc Dân Đảng...”.
Suy xét sự diễn tiến của hoạt động giữa Lý Thụy và cụ Phan Bội Châu lúc đó không thể chỉ có một làn gặp mặt nhau mà nhiều lần, nhất là vào giai đoạn cuối năm 1924 (Lý Thụy thì nhờ vào Tâm Tâm Xã tại Quảng Châu để hoạt động cho Cộng Sản Quốc Tế, cụ Phan đã là người của Tâm Tâm Xã Quảng Châu trước đó, ngoài ra họ còn có tình bác cháu từ khi Nguyễn Sinh Cung mới 14 tuổi). Nhưng càng gặp cụ Phan nhiều lần, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) nhận thấy giữa hai người không đồng quan điểm về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc... Phải chăng đây chính là nguyên nhân khiến bác cháu họ phải đường ai nấy đi? Chúng ta có thể thấy ngay một người hiền đức nho phong (quân tử) như cụ Phan Bội Châu thì làm gì có thể biết được những cạm bẫy quỷ quyệt do bọn trẻ đầy mánh khóe (tiểu nhân) giăng ra để đánh sập các bậc tiền bối tên tuổi... Tội nghiệp cho cụ Phan, người sắp bị sập vào bẫy mà không hề hay biết. Trên chuyến tàu hỏa từ đi từ Hàng Châu đến Thượng Hải để về Quảng Châu dự đám giỗ đầu (một năm sau ngày mất) của chí sĩ Phạm Hồng Thái. Nhưng không may khi đến Thượng Hải thì cụ Phan bị Pháp bắt cóc, rồi cuối cùng đưa về nhốt vào nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội).
Nhìn vào các hoạt động của Nguyễn Tất Thành từ khi sang Anh, tới Pháp, nhờ sự giúp đỡ của nhóm Việt Kiều tại Pháp như Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và cả cụ Phan Chu Trinh nữa, nhưng Nguyễn Tất Thành xem đó như chỉ là chuyện quá khứ... Sau khi được Nguyễn Thế Truyền giới thiệu vào tổ chức Tâm Tâm Xã và Đảng Xã Hội Pháp, Nguyễn Tất Thành như được mọc thêm cánh do phe Xã Hội Chủ Nghĩa chắp cho, liền rời bỏ nhóm “Ngũ Long” (chỉ còn giữ lại cái bút hiệu chung của nhóm là Nguyễn Ái Quốc) sang Liên Xô xin theo Cộng Sản Quốc Tế III... Ở Liên Xô một thời gian, Nguyễn Ái Quốc có tên mới Lý Thụy làm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn nước nầy đến Trung Quốc. Lý Thụy đến Quảng Châu tìm gặp được nhiều thanh niên yêu nước của Việt Nam đang hoạt động tại nơi nầy, liền lôi kéo họ vào tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”. Để có thể duy trì “hội” lâu bền, Lý Thụy bất chấp mọi thủ đoạn... Càng về sau, khi đã là Hồ Chí Minh (*), dầu được các đống chí dưới quyền che giấu, nhưng những tội ác do ông (HCM) gây ra ngày càng quá rõ ràng, không chỉ nhằm loại những người đối địch, mà còn loại ngay những đồng chí thân cận nếu họ biết rõ những tội ác mà ông gây ra. Một con người như thế thì chuyện hại cụ Phan Bội Châu tại Thượng Hải trước là để có thể tiêu diệt được một đối thủ chính trị lớn (con cá lớn), sau là có thêm một số tiền thưởng dùng làm ngân quỹ hoạt động cho “hội”, Lý Thụy sẽ không từ nan và nhất định phải làm.
(*) Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam ngày 28/1/1941 (sau 30 năm ở hải ngoại). Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc cho triệu tập Hội Nghị lần thứ VIII Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, để quyết định những việc làm của “đảng” trong giai đoạn tới. thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Năm 1942, nhằm đánh lạc hướng theo dõi của mình trước đó tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đổi tên thành Hồ Chí Minh. Ngày 13/8/1942, Hồ Chí Minh đi Trung Quốc, đến ngày 27/8/1942, Hồ Chí Minh bị bắt tại Túc Vinh. Khi kiểm soát giấy tờ thì thấy có thẻ hội viên “Hội Ký Giả Thanh Niên Trung Quốc”, nhưng bị chính quyền Tưởng Giới Thạch nghi ngờ là gián điệp của Cộng Sản nên bắt giam, sau đó đã giải giao qua 13 huyện, thị của tỉnh Quảng Tây đến ngáy 10/9/1943, Hồ Chí Minh mới được thả ra (trong đó có tài liệu ghi có sự can thiệp của Hồ Học Lãm đang làm cho Tưởng Giới Thạch và cũng là bạn đồng môn của Tưởng nữa). Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về nước, ở căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị cho thành lập Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, tiền thân của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời căn cứ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang), tại đây Hồ Chí Minh đã cho mở hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại Hội Quốc Dân quyết định Tổng Khởi Nghĩa. Đại Hội Quốc Dân đã bầu ra Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc Việt Nam (tức Chính Phủ Lâm Thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch.   
Trở lại vụ Lý Thụy bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp,
Theo Đặng Chí Hùng (danlambao - đã nói ở phần trên) đưa ra những bằng chứng xác thực mà Lý Thụy bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp như sau:
- Thứ nhất, trong cuốn “Vietnam at War” của tác giả Phillip B. Davidson - một cựu sĩ quan tình báo của quân đội Hoa Kỳ, đã viết:
The French say that in June 1925, Ho betrayed to the Surete in Shanghai for 100,000 piaster…”. Đại ý dịch lại, ông Hồ Chí Minh với bí danh Lý Thụy lúc đó đã bán đứng cụ Phan cho nhà cầm quyền thực dân Pháp lấy 100.000 đồng, lúc đó đồng bạc Đông Dương có giá trị hơn đồng Franc (Đây là cuốn sách thuộc dạng tài liệu mật của quân đội Hoa Kỳ).
- Thứ hai, Theo Joseph Buttinger, “A Dragon Embattled” (New York: Praeger, 1967, Tập 1), của Joseph Buttinger). Ông này khẳng định:
Lam Duc Thu and Thanh (Ho Chi Minh) split 150,000 piasters, which Thanh later used to fund his own fledgling communist organization, “Vietnamese Revolutionnary Youth Association…”. Ho Chi Minh promised to protect Thu with condition that Thu must keep a low and "quiet" life in the village and not to reveal the secret about "activities" of both when they had lived in Hong Kong…”.
Theo nội dung thì Joseph Buttinger đã nói rằng Lâm Đức Thụ và Thành (tức Nguyễn Tất Thành) chia nhau số tiền 150.000 đồng, sau này Nguyễn Tất Thành đã dùng phần tiền chia nầy  để tài trợ cho tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội mới thành lập của mình. Để giấu nhẹm việc nầy, Lý Thụy hứa là sẽ bảo vệ Lâm Đức Thụ với điều kiện là Thụ phải giữ bí mật (sống cuộc sống bình thường và yên lặng trong làng, và không tiết lộ bí mật hoạt động của hai người tại Hồng Kông). Làm điều này, Lý Thụy tin rằng nếu sự việc đổ bể thì chỉ có một mình Lâm Đức Thụ nhận lãnh tội, còn ông ta không liên can gì trong vụ “mật thám Pháp bắt cóc cụ Phan”.
- Thứ 3, trong “No More Vietnams” trang 33, của Tổng Thống Richard Nixon, có đoạn viết:
Tạm dịch (ĐCH):
Ông Hồ liên minh hầu hết với tất cả phần từ Quốc Gia nhưng ông ta không bao giờ đặt mục tiêu chung lên trên mục tiêu của ông ta. Ông ta liên minh với các nhóm nầy là để phục vụ cho mục đích củng cố tham vọng của ông ta. Khi có mâu thuẫn, ông ta sẵn sàng tiêu diệt họ.
Năm 1925, ông Hồ phản bội nhà cách mạng lão thành nhất của Việt Nam là Phan Bội Châu cho mật vụ Pháp. Lịch sử của Cộng Sản đã nói rằng ông Phan Bội Châu đã sa ngay vào một cái bẫy, nhưng không nói ra cái bẫy đó là của ông Hồ để nhân được 100 ngàn quan Pháp. Vào thời đó, ông Hồ biện hộ cho sự phản bội của ông ta với các đồng chí của ông ta rằng Phan Bội Châu là một người Quốc Gia và do đó sẽ trở thành đối thủ trong tương lai.”.
Trong sách, Tổng Thống R. Nixon đã chỉ đích danh ông Hồ bán đứng cụ Phan. Điều này là thật, một vị Tổng Thống như Tổng Thống của nước Mỹ, cho dù có đối lập quan điểm chính trị với bất cứ ai kể cả kẻ thù, vị Tổng Thống ấy không bao giờ làm một việc bẩn thỉu bôi nhọ đối phương (Cương vị một vị Tổng Thống như Nixon, viết sách dùng chính tên mình (không dùng nhiều bút danh tự ca ngợi mình như Hồ Chí Minh) không cho phép ông ta viết bừa bãi. Hơn thế nữa, những điều ông ta viết ra không phải tự đặt, hư cấu mà là “nó” được sự chuẩn hóa từ các tài liệu do Pháp (đồng minh) giao, cộng với tin tức do cơ quan tình báo Mỹ cung cấp.
- Thứ 4, Nhà Báo David Halberstam từng ở Việt Nam (đoạt giải Pulitzer năm 1964, phóng viên thời đó được giải Pulitzer còn có các ông Malcolm Browne, Peter Arnett, Neil Sheehan và Horst Faas (hai lần), qua các bài phóng sự của ông về chiến tranh, cũng như vụ đảo chính lật đổ chính quyền ông Ngô Đình Diệm, nội dung các bài viết có tư tưởng thiên tả (Tổng Thống Kennedy đã từng ép buộc tờ New York Times phải bắt David Halberstam rời khỏi Việt Nam vì sợ ông làm tăng không khí phản chiến). Nói thế để thấy ông nầy thân Việt Cộng... Tuy nhiên, David Halberstam cũng đã viết cuốn “Ho” dài 120 trang, xuất bản năm 1971 và in lại năm 1987. Trong cuốn sách nầy, trang 56, có đoạn khẳng định:
Ông Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp để lấy 150,000 đồng tiền thưởng là có thật”.
- Thứ 5, trên tờ Washington Post, đây là một tờ báo nổi tiếng với các bài viết có nội dung khá trung thực, đã viết về vụ “phản bội” của HCM đối với cụ Phan Bội Châu, có đoạn như sau:
“... In Shanghai, Chau met Ho Chi Minh, then operating under the alias Ly Thuy. As heads of rival nationalist, revolutionary groups, they immediately distrusted each other, but in their quarrels Ho struck the first blow. In June 1925, for 100,000 piastres, he betrayed Chau to agents of the Deuxieme Bureau, Surete Generale du Gouvernement General pour l'Indochine (abbreviated as 2nd Bureau) -- the French police--and he was seized while passing through Shanghai's international settlement. Ly Thuy later rationalized that his was a good act” (http://www.washingtonpost.com/wp-srv/style/longterm/books/chap1/victoryatanycost.htm).
Tạm dịch: “Tại Thượng Hải, Châu đã gặp Hồ Chí Minh, sau đó hoạt động dưới bí danh Lý Thụy. Là người đứng đầu của đối thủ quốc gia, các nhóm cách mạng, họ ngay lập tức không tin tưởng nhau, nhưng trong những cuộc cãi vã, họ Hồ đánh đòn đầu tiên. Trong tháng 6 năm 1925, vì 100.000 piastres, ông Hồ đã phản bội Châu cho các đại lý của văn phòng Deuxieme, Surete Generale du Gouvernement pour l'Indochine (viết tắt như 2nd Cục) - Cảnh Sát Pháp - và ông Châu đã bị bắt giữ trong khi đi qua “tô giới quốc tế” Thượng Hải. Lý Thụy sau đó hợp lý hóa tiền của mình là một hành động tốt...”.
Những dẫn chứng vừa rồi đều là tài liệu được viết từ phía đối lập mặc dầu trong đó có dẫn chứng bài viết của David Halberstam (phóng viên thân Cộng), nhưng muốn các tài liệu dẫn chứng từ phía Đảng Cộng Sản Việt Nam viết ra (đã kiểm duyệt, trước khi cho phép xuất bản) thì xác đáng hơn:
- Thứ 6, sách “Thành Ngữ Điển Tích - Danh Nhân Từ Điển” (NXB Văn Học, 2008, tr.742) của Tác Giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết), trong mục nói về Phan Bội Châu, ghi:
“Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn Thế Giới Bị Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc", nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động. 
2     - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.

Đây là cuốn sách được xuất bản tịa Sài Gòn (NXB Văn Học, 2008) dĩ nhiên là do “Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam” cho xuất bản, có nghĩa “nó” phải qua kiểm duyệt của Đảng Cộng Sản và các cơ quan tuyên giáo, không lẽ các cơ quan kiểm duyệt nầy “bị mù”? Chỉ có một cách giải thích hợp lý, đó là lấy số “tiền thưởng” nầy để “chi tiêu cho việc hoạt động, tuyên truyền phong trào” nhằm tô hồng hình ảnh ông Hồ, nhưng đã quên đi nhân vật bị hại lại là một nhà yêu nước chân chính như cụ Phan Bội Châu. Hồ Chí Minh đùng đòn “đâm sau lưng” cụ Phan, người từng khích lệ, giúp đỡ Lý Thụy khi đến Tâm Tâm Xã Quảng Châu hoạt động, là hành động hèn hạ, hơn nữa việc đâm sau lưng này lại là việc giúp cho kẻ thù chung của dân tộc.  
- Thứ 7, Hồ Chí Minh khi viết về cụ Phan Bội Châu, dùng bút hiệu Trần Dân Tiên có đoạn:
"Vừa nghiên cứu làm việc để sống, ông Nguyễn vẫn ra sức làm việc cho tổ quốc mình. Ông bắt đầu tổ chức đồng bào Việt Kiều ở Trung Quốc. Tổ chức này gọi là Hội Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí... Hoạt động của Hội Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí bắt đầu lan vào trong nước. Thực dân Pháp gián tiếp giúp đỡ rất nhiều...". (đoạn trích trong sách: Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài – UNESCO … Hà Nội 1999).
Như chúng ta đã biết Trần Dân Tiên là bút hiệu của ông Hồ dùng để viết sách ca ngợi về mình, có lẽ vì say men tự tung hô nên đã tung hô luôn kẻ thù (Pháp) “Thực dân Pháp gián tiếp giúp đỡ rất nhiều”. Tại sao lại có chuyện “Thực dân Pháp gián tiếp giúp đỡ” ở đây, giúp đỡ gì? Trong khi họ đang là kẻ thù của dân tộc. Phải chăng đây là cách nói tránh việc bán cụ Phan cho Pháp để Pháp “giúp” tiền, để củng cố tổ chức của Hồ Chí Minh.
- Thứ 8, tác giả William J. Duiker viết về Hồ Chí Minh, ông nầy được coi như "bạn" của Đảng Cộng Sản, đã dựa vào mối nghi ngờ của Phan Bội Châu để bác bỏ việc Hồ Chí Minh dính vào việc bán cụ Phan Bội Châu, Duiker viết:
Chính Phan Bội Châu đã cho biết kẻ chỉ điểm cho Pháp bắt mình là Nguyễn Thượng Huyền. Thực ra, qua những dòng trong Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu chỉ cho biết được nghe nói như thế và tin theo chứ không hề xác định với bằng chứng nào. Sự việc này đã được sử gia Phạm Văn Sơn đề cập và cho rằng Phan Bội Châu nghi oan cho Nguyễn Thượng Huyền. Chính Nguyễn Thượng Huyền đã lên tiếng khi biết nội vụ vào dịp về Việt Nam – “khoảng năm 1965, cụ Nguyễn Thượng Huyền có về Việt Nam và đăng một bài cải chính nói rõ vụ việc trên tờ “Bách Khoa” số 73” (Việt Sử Tân Biên – Phạm Văn Sơn – Sàigòn 1972 – Q.7, tr. 254, 229). Như vậy, trong ba người được nêu tên liên hệ đến vụ bán người thì hai người đã lên tiếng. Nguyễn Thượng Huyền đối diện thẳng với vấn đề để chứng minh sự vô can của mình, còn Lâm Đức Thụ, theo ghi nhận của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, đã khoe đó là thành tích do chính mình đạt được. Vào năm 1925, Lâm Đức Thụ là người thân tín của Hồ Chí Minh được dành cho vai trò lãnh đạo cao nhất của tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, nên không thể không bàn bạc với Hồ Chí Minh về mọi công việc. Như thế, nếu cụ Nguyễn Thượng Huyền là kẻ bán đứng Cụ Phan cho Pháp thì ắt hẳn đã bị Hồ Chí Minh lúc đó còn sống phản bác khi cụ Huyền khẳng định mình không bán cụ Phan. Chỉ có một lý do khiến Hồ Chí Minh phải im lặng đó là việc ông ta và Lâm Đức Thụ là kẻ chủ mưu.
- Thứ 9, trong cuốn sách của tác giả Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (Cộng Sản Liên Xô) “Đồng Chí Hồ Chí Minh” - Tập 2 (NXB Thanh Niên - Hà Nội – 1985), có đoạn viết:
Đồng Chí Nguyễn (Lý Thụy) đã có những biện pháp để củng cố vị thế của mình trong tổ chức hội “thanh niên yêu nước” một cách khôn khéo. Người Pháp tưởng như câu được một con cá to nhưng không hẳn như vậy. Sự việc đó có lợi cho phong trào của đồng chí…”.
Tuy không dám nói thẳng ra nhưng “tác giả Cộng Sản” này đã nói đến việc ông Hồ (Lý Thụy) củng cố phong trào Cộng Sản bằng việc lừa người Pháp để lấy tiền để củng cố “hội” của mình. Sự Việc này không gì ngoài việc nói đến bán đứng cụ Phan mà tác giả Liên Xô ám chỉ là "Con cá to".
- Thứ 10, ông Hà Huy Tập – một người Cộng Sản tiền bối và được Đảng Cộng Sản trọng vọng trong văn bản gửi Quốc Tế Cộng Sản III, đề ngày 20-4-1935 như sau:
Trước và sau đại hội của đảng, một số đồng chí khi nói chuyện với nhau thường bàn về đồng chí Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ). Họ cho rằng Quốc chịu trách nhiệm về việc mật thám bắt hơn 100 hội viên đoàn thanh niên, bởi vì:
a) Quốc biết rõ Lâm Đức Thụ là một tên khiêu khích nhưng vẫn làm việc với hắn.
b) Quốc đã phạm sai lầm khi yêu cầu mỗi thanh niên nộp hai bức ảnh, ghi rõ tên thật, địa chỉ, tên cha mẹ, ông bà, cụ kỵ cùng với tên của từ 2 đến 10 người bạn.
c) Ở trong nước, ở Xiêm (Thái Lan) và ở trong tù, người ta vẫn còn bàn tán đến trách nhiệm của Quốc, trách nhiệm mà anh ta không dám chối.”
Theo Hà Huy Tập, Hồ Chí Minh đã sai lầm khi đòi hỏi những người gia nhập tổ chức phải khai rõ lý lịch, nộp hình ảnh và tin cậy Lâm Đức Thụ nên những tài liệu này rơi vào tay mật thám Pháp khiến hàng trăm người đã bị bắt. Việc ông Hồ biết Lâm Đức Thụ là gián điệp nhưng vẫn dung túng để cho ông ta gửi thông tin bắt bớ các đồng chí của mình, chính là hành động thể hiện sự đồng mưu bán đứng những người yêu nước cho Pháp trong đó có cụ Phan.

(Còn Tiếp)
HyperLink
Cùng chủ đề
© Copyright 2012    http://vietnamsuhoc.com/    All right reserved.   E-mail:info@vietnamsuhoc.com    Designed by Ho Quang.